| Tóm tắt: |
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBL) tháng 4/2026 tăng 12,1% YoY. Lũy kế 4 tháng đầu năm, tăng trưởng TMBL đạt 11,1% YoY. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố về giá, tốc độ tăng trưởng thực tế TMBL trong 4 tháng đầu năm chỉ đạt 6,3% YoY, thấp hơn so với trung bình năm 2025 (7,05%), cho thấy sức mua thực tế có thể đang chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi diễn biến giá hàng hóa tăng.
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2026 ước đạt 45,52 tỷ USD, tăng 21% YoY. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 48,8 tỷ USD, tăng 3,6% MoM và 32,5% YoY. Lũy kế 4 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lần lượt tăng 19,7% YoY và 28,7% YoY, thâm hụt thương mại ước tính 7,11 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 4,3 tỷ USD).
- Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 4 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong 4 tháng đầu năm, hoạt động sản xuất công nghiệp tăng 9,2% YoY. Nhiều nhóm ngành ghi nhận tăng trưởng tích cực như sản xuất hóa chất (+20,6%), sản xuất kim loại (+18,7%), sản xuất đồ uống (+15,9%), sản xuất và phân phối điện (+10,9%).
- Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước (NSNN) trong tháng 4 đạt 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, thực hiện từ NSNN đạt 187,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4% YoY.
- CPI tháng 4 tăng 5,46% YoY. Tính chung 4 tháng đầu năm, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ. Lạm phát chịu áp lực tăng từ giá năng lượng, chi phí logistic và nhu cầu tăng. Nếu giá năng lượng toàn cầu tiếp tục duy trì ở mức cao, CPI có khả năng sẽ tiếp tục neo ở mức cao trong các tháng tới.
- Tính tới ngày 29/4/2026, VND mất giá 0,19% YTD so với USD. Căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng gia tăng, có thể khiến các NHTW lớn tăng lãi suất, gây áp lực đối với tiền tệ của nhiều nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
bvsc-kinh-tế-vĩ-mô-tháng-42026.pdf
|