Tài chính - Ngân hàng
Trái phiếu doanh nghiệp trước bài toán 'có hàng mà dân không biết'
NDH - 03 Tháng Năm 2019        -

Tìm giải pháp cân bằng thị trường vốn và thị trường tiền tệ là nội dung chính của phiên thảo luận về tài chính - tín dụng trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2019.

Các nhà làm chính sách, chuyên gia đã đúc kết và đưa ra 8 giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp - một trong những kênh huy động vốn quan trọng bên cạnh ngân hàng.

Cụ thể, những giải pháp này gồm: (1) hoàn thiện thể chế; tiếp tục tái cơ cấu thị trường tài chính nói chung, thị trường vốn nói riêng và tái cơ cấu các định chế tài chính tham gia, (2) tăng minh bạch thị trường và thúc đẩy xây dựng văn hoá minh bạch thông tin, xếp hạng tín nhiệm để phát hành trái phiếu, (3) đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ, (4) thúc đẩy xây dựng hạ tầng về tài chính, cơ sở dữ liệu thông tin, (5) có giải pháp thúc đẩy tính thanh khoản của thị trường; giáo dục tài chính vì “có thị trường, hàng hoá mà dân không biết, chẳng đầu tư”, (6) thực thi chính sách, phối hợp chính sách tiền tệ, tài khoá, chính sách kinh tế vĩ mô khác.

Cần cơ chế “thoáng” hơn

Chuyên gia Cấn Văn Lực nêu số liệu về quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp và đưa ra 2 con số: khoảng 2% GDP theo thống kê của ADB và 8% theo số liệu của Bộ Tài chính.

Lý giải các con số này, bà Phan Thị Thu Hiền, Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính, Bộ Tài chính, cho biết tính đến 2018, quy mô thị trường TPDN là 8,6% và đến quý I/2019 là 9,2%. Có sự khác biệt vì thống kê của ABD dựa trên trái phiếu niêm yết và chưa có số liệu của trái phiếu phát hành theo hình thức riêng lẻ. Trong khi đó, trên TTCK phần này lại có 2 hình thức là phát hành trái phiếu ra công chúng và phát hành trái phiếu riêng lẻ.

Liên quan đến mất cân đối thị trường tín dụng và thị trường vốn, bà Phan Thị Thu Hiền cho rằng phải nhìn trong số liệu. Thị trường tín dụng đã phát triển rất lâu đời. Trong khi đó, thị trường chứng khoán dù có tốc độ phát triển 25%/năm nhưng 20 năm qua, quy mô còn nhỏ. Hiện trong tổng tài sản của ngân hàng (tương đương khoảng 199% GDP) thì có khoảng 79% là tiền gửi của tổ chức. Vấn đề đặt ra là làm sao cần có giải pháp thu hút dòng vốn của 79% GDP này. "Nếu khơi thông được chính sách, giải pháp để chuyển tiết kiệm sang phần tiết kiệm trung và dài hạn ngay tại hệ thống ngân hàng thì tôi cho rằng cũng là giải pháp tốt", vị này nói.

Theo lãnh đạo Bộ Tài chính, việc kiểm soát tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng bằng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 60% về 40%, tiếp tục phải giảm chính là một trong những giải pháp bên cạnh các giải pháp khác. Song song với đó là thu hút các dòng vốn kể cả tiền tiết kiệm 2-3 năm của người dân.

Ông Đỗ Ngọc Quỳnh, Tổng thư ký Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam, thì cho rằng sự phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam nói chung và trái phiếu doanh nghiệp nói riêng đến nay “là rất ấn tượng so với các nước trong khu vực cả về khung pháp lý và cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp phát hành và nhà đầu tư”.

“Tôi cảm nhận muốn hình thành kênh trái phiếu cho tất cả doanh nghiệp phát hành trái phiếu là kỳ vọng không đúng. Thực tiễn ở tất cả nước có thị trường tài chính phát triển trên thế giới chỉ có một số DN phát triển đến độ nhất định mới phát hành trái phiếu. Ở DN mới hình thành và phát triển thì kênh là các quỹ. Như Malaysia chẳng hạn có đến 70% GDP là trái phiếu doanh nghiệp, khoảng 30 DN phát hành trái phiếu thôi, DN vừa và nhỏ không tham gia”, ông dẫn ví dụ.

Ở Việt Nam, một trong những điểm “vướng” nhiều nhất chính là tính đồng bộ trong các luật, quy định. Bị vướng nhiều nhất là quy định 3 năm liền DN không có nợ quá hạn, 1 DN chỉ có khoản nợ gốc và lãi trong 3 năm là không phát hành được. Theo ông Quỳnh, dường như chúng ta đang áp dụng quy định của thị trường cổ phiếu cho trái phiếu, đặc biệt là với trái phiếu phát hành riêng lẻ.

“Hướng đến NĐT có điều kiện phát hành riêng lẻ nhưng giờ lại quá chặt. Thực ra điều kiện quan trọng nhất là minh bạch thông tin, khi đã minh bạch thông tin thì thị trường tự định giá trái phiếu đó theo rủi ro, lúc đó thuận lợi hơn. Còn nếu quy định như vậy thì xếp hạng phải AA trở lên mới đủ điều kiện phát hành trái phiếu”, ông nêu vấn đề và cho rằng nên để cơ chế thoáng hơn, do thị trường hoàn toàn quyết định rủi ro, khung giá trái phiếu theo rủi ro đó. Thứ nhất là DN phải đảm bảo tính minh bạch công bố thông tin.

Cần văn hoá xếp hạng tín nhiệm

Một câu hỏi được đặt ra là việc hình thành công ty định mức tín nhiệm đã được manh nha đặt ra từ năm 2012-2013 nhưng đến nay hoạt động chưa đáng kể, bên cung chưa có thì bên cầu ra sao.

Về tổ chức định mức tín nhiệm, bà Phan Thị Thanh Hiền cho biết từ năm 2016 đã có khung khổ pháp lý nhưng cung không có thì cầu cũng không. NĐT khi đầu tư vào TPDN mà không yêu cầu có thông tin thì không thể có cung được. Từ kinh nghiệm của các nước, đại diện Bộ Tài chính cho biết phát triển thị trường định mức tín nhiệm thì NĐT cũng phải yêu cầu doanh nghiệp khi ra thị trường cần phải được xếp hạng tín nhiệm.

Còn theo ông Đỗ Ngọc Quỳnh, vừa qua, Bộ Tài chính cũng cấp phép công ty tín nhiệm. Ông cho rằng có thể xem xét học hỏi mô hình của Hàn Quốc hoặc Malaysia, tạo ra văn hoá hình thành định mức tín dụng này. “Một số nhà đầu tư muốn làm đấy nhưng ngại vì thấy cầu của Việt Nam quá nhỏ. Ở Malaysia hay Hàn Quốc, các công ty phát hành trái phiếu bắt buộc phải được xếp hạng tín nhiệm. Tôi tham khảo thì được biết cơ quan quản lý Malaysia nói rằng họ mất 2 năm để hình thành văn hoá, NĐT xem xét đầu tư, định giá trái phiếu căn cứ vào xếp hạng tín nhiệm. Doanh nghiệp bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm nếu muốn phát hành trái phiếu”, ông Quỳnh nêu.

Đại diện Hiệp hội Trái phiếu cũng cho rằng việc hình thành văn hoá này là cần thiết, kích thích được NĐT chuyên nghiệp, có năng lực.

Đối với trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), UBCKNN cho biết Bộ Tài chính đã chỉ đạo xây dựng cổng thông tin về doanh nghiệp phát hành trái phiếu và chắc chắn sắp tới sẽ có công ty định mức tín nhiệm.

Siết quy định công bố thông tin

Bà Phan Thị Thanh Hiền cho rằng ngoài xếp hạng tín nhiệm thì văn hoá công khai là rất quan trọng. Chính sách cần có quy định rõ ràng, yêu cầu công bố thông tin (CBTT) công khai.

Các DN cần tuân thủ công bố trước, trong, sau phát hành, định kỳ và thường xuyên. Nếu là DN niêm yết, việc công bố trên Sở giao dịch là cần thiết, phát hành riêng lẻ cũng cần có địa chỉ để CBTT. Việc phát triển cơ sở hạ tầng cho CBTT, theo lãnh đạo Bộ Tài chính, cũng quan trọng, bên cạnh gắn với trách nhiệm, xử phạt. Từ phía DN, vấn đề quản trị, tuân thủ chuẩn mực kế toán cần được thực hiện. Từ góc độ NĐT thì NĐT có kiến thức cần yêu cầu DN trả lời các câu hỏi “ah là ai, anh ở đâu, thông tin cung cấp đã đầy đủ hay chưa”… để đánh giá các khoản đầu tư. Đó chính là những yếu tố có thể làm cho thị trường vốn nói chung và trái phiếu DN nói riêng đảm bảo tính công khai, minh bạch.

Ông Phạm Hồng Sơn, Phó Chủ tịch UBCKNN, bổ sung Nghị định 163 quy định rõ về CBTT của DN với các nội dung cần công bố là trước phát hành, có kết quả, thông tin định kỳ hay bất thường liên quan đến hoạt động của DN. Đi kèm với đó là các chế tài xử phạt về CBTT rất rõ ràng. Ông Sơn cho biết thời gian vừa qua, nhìn từ việc xử phạt của UBCKNN thì thấy là DN có tiến bộ, nhận thức rõ về CBTT.

Trong 5 năm gần đây, xử phạt, vi phạm về CBTT giảm nhiều. Cơ quan quản lý hầu như chỉ xử phạt vi phạm CBTT trong trường hợp cá nhân bán cổ phiếu mà không biết là người có liên quan hay không, hầu như không có trường hợp cố tình vi phạm che giấu. Lãnh đạo UBCKNN cho rằng điều đó cho thấy nhận thức của DN về CBTT, minh bạch thông tin đã được nâng cao, tạo ra nền tảng thông tin được minh bạch hoá, không chỉ với nhà đầu tư trong nước mà cả nước ngoài.

Ông Đỗ Ngọc Quỳnh nói rằng việc hình thành một uỷ ban liên bộ trong phát triển thị trường trái phiếu là cần thiết. Uỷ ban lên có kế hoạch hàng tháng, nếu có điểm gì đó còn vướng mắc thì giải quyết. Lộ trình ban hành tốt nhưng khi thực thi, việc trao đổi và phối hợp giữa các cơ quan, theo ông Quỳnh, là hơi chậm.

Theo ông Phạm Hồng Sơn, Phó Chủ tịch UBCKNN, từ năm 2000 đến nay, thị trường chứng khoán (TTCK) đã giữ được tốc độ ổn định và phát triển tương đối bền vững. Về khung pháp lý, một số nước có TTCK phát triển rồi mới đưa ra khung pháp lý, quản lý thị trường.Còn ở Việt Nam, cơ quan quản lý làm hết cả khung pháp lý, như một “bà đỡ” cho thị trường.

Theo lãnh đạo UBCKNN, điều này cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với thị trường này. “Hiện có trên 1.000 doanh nghiệp tham gia niêm yết, đó là con số rất lớn, đặc biệt doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá rất nhiều, huy động vốn qua TTCK rất tốt”, ông nói.

 
 
 
Tin nổi bật
 
 
 
Các chỉ số CK thế giới
Thị trường Chỉ số Thay đổi

Xem thêm
 
 
 

Hội sở

Địa chỉ: Số 72 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: (84-24) 3928 8080  -   Fax: (84-24) 3928 9888
Email: info-bvsc@baoviet.com.vn

Chi nhánh Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Lầu 8, Tòa nhà Tập đoàn Bảo Việt, 233 Đồng Khởi, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: (84-28) 3914 6888  -   Fax: (84-28) 3914 7999
Email: info.hcm@baoviet.com.vn