Tin kinh tế - Đầu tư
Nợ nước ngoài của Việt Nam đang tăng
NDH Money - 23 Tháng Năm 2013        -

Số liệu thông kê hằng quý từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho thấy, nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức trung bình khoảng 19-20% GDP trong những năm 2000-2002 đã lên trên 30% trong vài năm gần đây. Tỷ lệ nợ nước ngoài ngắn hạn cũng có xu hướng tăng tương tự, tỷ lệ này hiện ở mức khoảng 11% trong quý 1 năm 2012 cao hơn rất nhiều so với mức dưới 5% trong những năm 1999-2005.

Cao hơn các quốc gia trong khu vực

So với một số quốc gia châu Á khác như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia thì Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ tổng nợ nước ngoài và nợ nước ngoài ngắn hạn so với GDP cao hơn trong nhiều năm gần đây. Trong khi xu hướng nợ giảm ở các quốc gia này thì Việt Nam lại có xu hướng ngược lại, tỷ lệ nợ lại cao gần 2 lần.

Nợ nước ngoài và nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam (%GDP)

Nguồn: ADB

Nợ nước ngoài một số quốc gia Châu Á (%GDP)

Nguồn: ADB

Về tỷ lệ nợ ngắn hạn, Việt Nam và Ấn Độ có tỷ lệ nợ cao hơn so với Thái Lan và Indonesia nhưng Việt Nam vẫn là quốc gia có tỷ lệ cao nhất trong nhóm này. Nợ nước ngoài ngắn hạn cao thường tạo ra áp lực lớn đối với điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt đối với điều hành tỷ giá hối đoái. Bởi vì mất giá đồng nội tệ tạo ra gánh nặng nợ quốc gia cao hơn.

Nợ nước ngoài ngắn hạn của một số quốc gia Châu á (%GDP)

Nguồn: ADB

Vay nhiều, nhưng sử dụng vốn chưa hiệu quả

Về nguyên tắc Chính phủ thường phân tích đầy đủ lợi ích kinh tế và xã hội của tất cả các dự án được tài trợ bằng nợ. Tài trợ bằng nợ được thực hiện nếu dự án đảm bảo lợi nhuận tạo ra sẽ đảm đương được thanh toán lãi vay và vốn gốc. Việc sử dụng vốn cũng phải được giám sát để làm cho đảm bảo vốn vay được sử dụng một cách có hiệu quả.

Tuy nhiên nếu dùng chỉ số ICOR để đánh hiệu quả đầu tư, dễ dàng nhận thấy hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam chưa cao, đặc biệt đối với khu vực nhà nước. Thông thường mức ICOR kỳ vọng vào khoảng giữa 4-5. Nếu xét về tổng nền kinh tế thì chỉ số ICOR đã tăng từ 4,89 lên đến 7,43 từ giai đoạn 2000-2005 đến giai đoạn 2006-2010 * Còn nếu so sánh hiệu quả giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước có thể dễ dàng nhìn thấy nghịch lý. Trong giai đoạn 2000-2005, trong khi khu vực ngoài nhà nước chỉ cần gần 3 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu thì khu vực nhà nước trung bình cần đến gần 7 đồng. Tương tự như thế, sang đến giai đoạn 2006-2010, khu vực ngoài nhà nước cần 4 đồng thì khu vực ngoài nhà nước cần đến gần 10 đồng. Một báo cáo khác của Lotte Schou-Zibell & Srinivasa Madhur (2010)-Ngân Hàng Phát Triển Châu Á- cũng cho thấy ICOR của Việt Nam giai đoạn 2000-2008 là 4.78.

Vay nợ tăng nhưng việc sử dụng vốn đầu tư chưa hiệu quả tạo ra gánh nặng về nợ ngày càng tăng là mối quan ngại lớn đối chúng ta hiện nay. Đầu tư không hiệu quả hoặc hiệu quả kém dẫn đến thiếu nguồn lực thanh toán lãi và hoàn trả nợ gốc. Rủi ro thanh khoản có thể xảy ra trong trường hợp này. Khi đó việc tiếp tiếp cận với các nguồn vốn trở nên khó khăn hơn và tốn kèm chi phí hơn nhiều. Hy Lạp hiện giờ là tình huống điển hình khi gia tăng nợ quá mức nhưng không đảm bảo thanh khoản.

Tuy nhiên vấn đề giảm nguồn vốn được bổ sung từ nợ lại không dễ dàng đối với Việt Nam. Thâm hụt ngân sách kéo dài nên để đảm bảo các khoảng chi đầu tư phát triển cần phải sử dụng đến nguồn vốn vay. Hơn nữa tăng trưởng của Việt nam cũng phụ thuộc nhiều vào yếu tố vốn. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cành (2009)-Đại Học Quốc Gia Tp.HCM cho biết ở Việt Nam trong 1% tăng lên của GDP thì đóng góp của vốn là 73%. Vì vậy, nếu giảm khối lượng vốn từ nợ trong thời điểm hiện tại khi các yếu tố khác không đổi tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể suy giảm.

Cách tốt nhất để thoát khỏi gánh nặng nợ chỉ có thể là nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án tài trợ bằng nợ, giảm thất thoát vốn do tham nhũng và lãng phí, khuyến khích tiết tiết kiệm để có nguồn tái đầu tư, khuyến khích các dự án đầu tư tạo ra doanh thu xuất khẩu. Ngoài ra, chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiêp phát triển kinh doanh từ đó tăng nguồn thu để cân bằng ngân sách.

*Số liệu trên TBKTSG ngày 17/11/2011, tác giá Bùi Trinh

 
 
 
Tin nổi bật
 
 
 
Các chỉ số CK thế giới
Thị trường Chỉ số Thay đổi

Xem thêm
 
 
 

Hội sở

Địa chỉ: Số 72 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: (84-24) 3928 8080  -   Fax: (84-24) 3928 9888
Email: info-bvsc@baoviet.com.vn

Chi nhánh Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Lầu 8, Tòa nhà Tập đoàn Bảo Việt, 233 Đồng Khởi, Quận 1, Tp.HCM
Điện thoại: (84-28) 3914 6888  -   Fax: (84-28) 3914 7999
Email: info.hcm@baoviet.com.vn